Ban Quản lý dự án Phát triển tỉnh Khánh Hòa
LineLine
Những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo

Nội dung

Thích
Những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo
Ban Quản lý dự án
01/07/2026
2 Lượt xem

Những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo

Chia sẻ:

Chính thức từ hôm nay. ngày 01/7/2026, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo số 136/2025/QH15 có hiệu lực thi hành. Luật được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025). Việc ban hành Luật nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời quan điểm, chủ trương của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; đồng thời cụ thể hóa các yêu cầu về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Sau đây là những nội dung cơ bản của Luật:

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo số 136/2025/QH15 gồm 04 điều, trong đó: Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân; Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại; Điều 3 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tố cáo; Điều 4 quy định về hiệu lực thi hành. Cụ thể:

Sửa đổi, bổ sung Luật Tiếp công dân

Về hình thức tiếp công dân: Luật bổ sung quy định về hình thức tiếp công dân trực tuyến (Điều 3a), đồng thời giao Chính phủ quy định việc tiếp công dân trực tuyến.

Về tiếp công dân ở cấp xã: Luật bổ sung một số nhiệm vụ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã như: quyết định bố trí địa điểm tiếp công dân ngoài Trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; ban hành quy chế tiếp công dân; giao đơn vị phù hợp tham mưu tiếp công dân; quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp tiếp công dân định kỳ tại địa điểm tiếp công dân ít nhất 02 ngày trong 01 tháng. Quy định này bảo đảm đồng bộ với quy định về tiếp công dân của người đứng đầu cấp ủy tại Quy định số 11-QĐi/TW của Bộ Chính trị và phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền cấp xã hiện nay (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được Luật giao thực hiện nhiều nhiệm vụ; cấp xã hiện nay có cán bộ tiếp công dân thường xuyên; khi cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thể tiếp công dân đột xuất để kịp thời tiếp nhận, chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo).

Về tiếp công dân tại cơ quan hành chính nhà nước: Luật bổ sung quy định: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giao cơ quan thanh tra bố trí công chức làm công tác tiếp công dân; Bộ không có Thanh tra Bộ giao đơn vị phù hợp bố trí công chức làm công tác tiếp công dân; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao đơn vị phù hợp trực thuộc bố trí công chức làm công tác tiếp công dân.

Luật cũng bổ sung quy định các cơ quan phối hợp tiếp công dân đã tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương, Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh thì không bố trí tiếp công dân thường xuyên tại cơ quan mình.

Về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh: Để bảo đảm phù hợp thực tế và tránh trường hợp mạo danh, lợi dụng, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh khi đến nơi tiếp công dân có nghĩa vụ "nêu rõ họ tên, địa chỉ, số căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc số định danh hoặc số hộ chiếu; trường hợp được người khiếu nại ủy quyền thì phải có giấy ủy quyền".

Liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Ban tiếp công dân ở mỗi cấp, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định việc hướng dẫn hoặc chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được tiếp nhận nhưng không thuộc phạm vi, trách nhiệm xử lý của cơ quan, tổ chức tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân nhằm bảo đảm tính chính xác của quy phạm có liên quan.

Về tiếp công dân của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp: Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định về địa điểm tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại khoản 1 Điều 22 để đồng bộ với quy định tại Điều 15. Theo đó, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện việc tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân cấp xã; sửa đổi quy định trách nhiệm của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã trong việc tổ chức công tác tiếp công dân của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình và trực tiếp tiếp công dân thuộc trách nhiệm của Hội đồng nhân dân cùng cấp tại khoản 2 Điều 22 để đồng bộ với quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định pháp luật có liên quan.

Về việc phân loại, chuyển nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết: Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định trường hợp khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì hướng dẫn hoặc chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Về điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân: Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo để phục vụ công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Bên cạnh đó, để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, Luật đã bãi bỏ quy định tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện; lược bỏ các điểm, khoản có liên quan đến việc tiếp công dân tại cấp huyện.

Toàn cảnh họp báo sáng 07/01/2026, Văn phòng Chủ tịch nước Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10

Sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại

Về chủ thể khiếu nại: Khoản 1 Điều 30 của Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025) quy định "Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân". Do đó, Luật sửa đổi quy định về chủ thể thực hiện quyền khiếu nại từ "công dân" thành "cá nhân" (khoản 1, khoản 2 Điều 2), đồng thời sửa đổi người có quyền, lợi ích hợp pháp do hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại từ "công dân" thành "cá nhân" tại khoản 2 Điều 24.

Về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại: Luật bổ sung Điều 11a quy định các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại. Việc tạm đình chỉ, đình chỉ được thực hiện bằng quyết định của người có thẩm quyền, nêu rõ lý do và căn cứ pháp luật, gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì người giải quyết khiếu nại tiếp tục giải quyết khiếu nại và thông báo cho các bên liên quan; thời gian tạm đình chỉ không tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại.

Để thống nhất với việc bổ sung thẩm quyền tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại tại Điều 11a, Luật bổ sung quyền của người khiếu nại được nhận quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại (điểm h khoản 1 Điều 12) để đảm bảo chặt chẽ và bảo vệ quyền của người khiếu nại.

Về rút khiếu nại: Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải quyết khiếu nại, Luật bổ sung quy định người khiếu nại có thể rút một phần nội dung khiếu nại; người khiếu nại có thể rút khiếu nại bằng biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại khi làm việc với người giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại (khoản 1 Điều 10). Trường hợp người khiếu nại rút một phần nội dung khiếu nại thì nội dung khiếu nại còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định (khoản 2 Điều 10). Nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa (khoản 3 Điều 10).

Đồng bộ với quy định về rút khiếu nại đã được sửa đổi tại Điều 10, Luật đã sửa đổi nội dung giải thích từ ngữ đối với cụm từ "Rút khiếu nại" tại khoản 3 Điều 2. Theo đó, rút khiếu nại là việc người khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chấm dứt một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của mình.

Về quyền của người giải quyết khiếu nại lần hai: Luật bổ sung quyền của người giải quyết khiếu nại lần hai được tham khảo ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp khi thấy cần thiết (điểm đ khoản 1 Điều 15) ngoài việc tham khảo ý kiến của Hội đồng tư vấn để đảm bảo tính chính xác trong việc giải quyết khiếu nại.

Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại: Luật sửa đổi, hoàn thiện thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, của công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp (Điều 17); sửa đổi, hoàn thiện thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

Về đối thoại trong giải quyết khiếu nại: Luật bổ sung quy định trường hợp người khiếu nại được mời nhưng không tham gia đối thoại mà không có lý do chính đáng thì người giải quyết khiếu nại vẫn tiếp tục giải quyết khiếu nại (khoản 6 Điều 30) đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

Về đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại, giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý công tác giải quyết khiếu nại: Luật bổ sung trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại tại các cơ quan quản lý nhà nước không có cơ quan thanh tra; sửa đổi, hoàn thiện quy định các Bộ, cơ quan ngang Bộ không có Thanh tra Bộ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã thì đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý công tác giải quyết khiếu nại.

Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại lần hai, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định trường hợp khiếu nại lần hai thì người khiếu nại gửi kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (nếu có); bổ sung quy định trong quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có nội dung kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu.

Bên cạnh đó, Luật đã bãi bỏ quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện; lược bỏ quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong giải quyết khiếu nại là vi phạm quy chế tiếp công dân.

Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Tiến Đạt phát biểu tại họp báo sáng 07/01/2026 Văn phòng Chủ tịch nước Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 12 luật đã được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10

Sửa đổi, bổ sung Luật Tố cáo

Về nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo: Luật bổ sung quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo trong một số trường hợp mà Luật Tố cáo chưa điều chỉnh. Theo đó, Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền quản lý của mình mà không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 12.

Về thẩm quyền giải quyết tố cáo trong cơ quan hành chính nhà nước: Luật sửa đổi, hoàn thiện thẩm quyền giải quyết tố cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý trực tiếp (khoản 1 Điều 13); sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo tại khoản 3 Điều 13 là của Người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp (điểm a khoản 4 Điều 13).

Về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Viện kiểm sát nhân dân: để đồng bộ với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ: Luật bổ sung quy định "Căn cứ vào từng vụ việc cụ thể, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho Tổng Thanh tra Chính phủ thụ lý tố cáo sau khi kiểm tra thấy đủ điều kiện thụ lý tố cáo; kết luận nội dung tố cáo và thông báo kết luận nội dung tố cáo sau khi Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến đối với báo cáo của Tổng Thanh tra Chính phủ về kết quả xác minh nội dung tố cáo".

Để phù hợp với việc sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra, Luật bổ sung trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị được giao tham mưu giải quyết tố cáo tại các cơ quan quản lý nhà nước không có cơ quan thanh tra; bổ sung quy định Tổng Thanh tra Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền nhằm đồng bộ với việc bổ sung quy định về ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trong giải quyết tố cáo (điểm b khoản 2 Điều 32).

Luật bổ sung quy định giao đơn vị tham mưu giải quyết tố cáo theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo (khoản 3 Điều 44).

Để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, Luật lược bỏ quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện./.

Nguồn: https://quochoi.vn/tintuc/Pages/su-kien-noi-bat.aspx?ItemID=100269

Liên kết

Công Báo Tỉnh Khánh Hòa
Đại Biểu Nhân Dân Tỉnh Khánh Hòa
Hệ Thống Quản Lý Thi Đua Khen Thưởng Tỉnh Khánh Hòa
Cổng Thông Tin Điện Tử Khánh Hòa

Thống kê truy cập

Số người đang online: 8
Đã truy cập: 3232855
Ban Quản lý dự án Phát triển tỉnh Khánh Hòa

Ban Quản lý dự án Phát triển tỉnh Khánh Hòa

Giấy phép số:
Số 15/ GP-STTTT do sở Thông tin và Truyền thông cấp ngày 23/10/2024

Chịu trách nhiệm nội dung:
Ông Nguyễn Thanh Hiến - Giám đốc

Website đạt chứng nhận tín nhiệm mạng